Một cuộc phỏng vấn một cậu bé người Nga, cậu nói là kiếp trước đã từng sống ở sao Hỏa ... (video)
Showing posts with label Chết và Tái Sinh. Show all posts
Showing posts with label Chết và Tái Sinh. Show all posts
Thursday, September 19, 2013
Wednesday, September 18, 2013
Monday, September 16, 2013
Một câu chuyện tái sinh ở Ấn Độ
Minh Chi
Con người có sự tái sinh hay không? Đó là một vấn đề mà nhiều người, ở phương Đông cũng như phương Tây, quan tâm. Nhân dịp Xuân Giáp Thân, chúng tôi xin giới thiệu đến quý độc giả nguyệt san Giác Ngộ một câu chuyện tái sinh ở Ấn Độ, có quan hệ tới Thánh Gandhi. Thánh Gandhi trực tiếp nói chuyện với Shanti Devi, cô gái tái sinh đã kể lại kiếp trước của mình. Câu chuyện này được dẫn lại trong tác phẩm đối thoại giữa khoa học và Phật giáo nổi tiếng: “Vũ trụ trong lòng bàn tay” của hai tác gải Trịnh Xuân Thuận và Mathieu Ricard, chương “The Virtual frontiers” (Biên giới hư ảo), bản Anh ngữ.
Câu chuyện kỳ lạ của cô Shanti Devi xảy ra tại Delhi, Ấn Độ, năm 1926. Khi lên 4 tuổi, Shanti Devi nói với cha mẹ của mình rằng nhà thật của cô là ở thành phố Mathura, nơi hiện nay chồng cô đang sống. Lúc ban đầu, cha mẹ cô cũng buồn cười, nhưng sau thì lo con gái mình loạn thần kinh chăng? Nhưng Shanti Devi luôn chứng tỏ mình là con bé ngoan và thông minh . Năm lên 6, Devi trốn khỏi nhà và tìm tới Mathura, cách đó hơn 300 dặm, nhưng không thành vì đường quá xa. Có lần, cô nói với một bạn học của cô rằng tên thật của cô là Lugdi Devi, chứ không phải Shanti Devi, rằng cô đã có chồng và một đứa con nhỏ mà cô không săn sóc được vì cô chết 10 ngày sau khi sinh đứa bé.Nhưng không có ngưòi nào tin lời cô nói.
Cuối cùng, thầy giáo cô cũng như bà hiệu trưởng cũng sinh nghi, họ đến thẳng nhà cô, hỏi han cha mẹ cô và cả cô nữa thật cặn kẽ. Cô mô tả lại cuộc sống xưa kia của cô ở Mathura với chồng cô là một thương nhân. Trong câu chuyện, cô luôn pha vào những thổ ngữ của Mathura, mà ở Delhi không ai hiểu cả. Họ hỏi tên chồng cô là gì, cô trả lời là “Kedar Nath”. Bà hiệu trưởng gửi thư hỏi người quen ở Mathura và biết ở Mathura đúng là có một thương nhân tên là Kedar-Nath. Bà hiệu trưởng gửi thư thẳng cho Kedar Nath, và được trả lời là đúng 9 năm trước đây, vợ anh ta đã chết sau khi sinh con 10 ngày.
Kedar Nath phái một ngưòi em họ mình đến Delhi để gặp cô gái. Cô gái nhận ngay ra người em họ của người chồng cũ, lại còn thắc mắc vì sao anh ta béo ra và chưa chịu lập gia đình. Cô còn hỏi thăm tin tức về đứa con của cô.
Sau đó, đến lượt Kedar Nath quyết định tự mình cùng với đứa con trai nhỏ đi Delhi, và tự giới thiệu mình không phải là Kedar mà là anh cả của Kedar.
Nhưng, Shanti Devi vừa gặp Kedar Nath, sau khi nghe giới thiệu là “anh của Kedar” bèn nói to: “Không, ông không phải là anh chồng tôi mà chính là chồng tôi”.
Thế rồi , cô khóc và lăn xả vào vòng tay ôm của chồng. Đến lượt đứa con trai nhỏ vào phòng , Shanti ôm chầm và hôn không khác gì mẹ hôn con, mặc dù đứa con trai lớn hơn Shanti Devi.
Mọi người chứng kiến đều ngạc nhiên vô cùng. Devi nhắc lại lời hứa của người chồng cũ rằng anh ta sẽ không đi bước nữa sau khi Devi qua đời. Nhưng cô nói sẵn lòng tha thứ khi người chồng cũ thú thật là mình không giữ lời hứa và đã lấy người vợ mới. Kedar Nath còn ở lại Delhi thêm vài ngày nữa, và khi trởvề Mathura, anh không còn nghi ngờ gì nữa Shanti Devi đúng là vợ cũ của mình tái sinh.
Nhưng câu chuyện không dừng ở đó mà đồn xa khắp nơi, đến tai Mahatma Gandhi. Thánh Gandhi đích thân đến thăm và hỏi chuyện cô gái. Cô gái đã làm Gandhi vô cùng thán phục. Shanti Devi nói với Gandhi rằng, Lugdi Devi trước đây có niềm tin tôn giáo sâu sắc. Gandhi xoa đầu cô gái và nói “Ta mong nghe nói về cháu nhiều hơn, khi cháu đến Mathura, lòng ta sẽ luôn bên cạnh cháu. Cháu cần chân lý. Đùng bao giờ đi chệch con đường chân lý, không kể phải trả giá như thế nào”. Rồi Gandhi phái cô gái đến Mathura, cùng với cha mẹ cô, ba công dân đáng kính của thành phố Delhi, cùng với một số luật sư, nhà báo và nhà doanh nghiệp. Tất cả những ngưòi đi theo cô gái và cha mẹ cô đều là nhân vật trí thức có tiếng tăm. Ngày 15 tháng 11 năm 1935, đoàn đến nhà ga xe lửa Mathura. Đông đảo quần chúng đã tập họp ở sân ga để chào mừng đoàn. Cô bé Shanti Devi làm mọi người ngạc nhiên khi cô ta tay bắt mặt mừng những người thuộc gia đình cũ của cô. Cô bé chạy đến và ôm choàng một ông già và gọi: “ông nội của cháu”, và hỏi “ông nội để cây tía tô của cháu đâu rồi?”. Ông già rất đỗi ngạc nhiên, vì trước khi chết, cô bé đã trao cho ông nhờ ông chăm nom cây tía tô, một loại cây ở Ấn Độ nổi tiếng về công hiệu y học và tâm linh.
Rồi cô bé hướng dẫn cả đoàn về ngôi nhà cũ của cô, và cha mẹ cô. Rồi cô lại gặp người chồng cũ, ông này cũng ngạc nhiên vô cùng. Gia đình cha mẹ hiện nay của Shanti Devi lo lắng là cô bé sẽ bỏ rơi họ. Nhưng rồi, cô bé cũng tự trở lại Delhi với cha mẹ hiện nay của cô. Trong thời gian ở lại Mathura, cô bé biết rõ người chồng cũ đã không giữ đúng bất kỳ một lời hứa nào của anh ta, đã nói với cô trong giờ phút cô lâm chung. Thậm chí, anh ta đã không cúng thần Khrishna số tiền 150 rupi, mà cô đã cất dấu dưới sàn gỗ của nền nhà, để cầu cho linh hồn cô được siêu thăng giải thoát. Shanti Devi tha lỗi cho người chồng cũ và tất cả mọi thất hứa của anh, trong khi ngày càng có nhiều người biết chuyện cô và ngày càng thán phục cô. Một ủy ban gồm người địa phương được cử ra để thẩm định tính xác thực của câu chuyện, và kết luận Shanti Devi đúng là Lugdi tái sinh.
Shanti Devi tiếp tục sống độc thân, vì cô ta đã hứa với người chồng cũ là sẽ sống độc thân trong đời sống kiếp sau. Cô không bao giờ lợi dụng danh tiếng của cô, và sau khi học xong môn văn chương và triết lý ở cấp đại học, cô sống một cuộc đời dành cho cầu nguyện và thiền định.
Qua câu chuyện trên, một câu chuyện về sự tái sinh trong vô vàn câu chuyện tái sinh khác đã và đang diễn ra khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là trong truyền thống Phật giáo Tây Tạng. Với những câu chuyện tái sinh như thế, điều mà Phật giáo nhấn mạnh là làm một chuyển biến nội tâm tích cực, nảy sinh từ việc chấp nhận thuyết tái sinh. Nếu không có sự chuyển biến nội tâm tương ứng, thì thuyết tái sinh đó chỉ là một kiến thức, một thông tin vô thưởng vô phạt như trărn ngàn thông tin khác mà thôi.
Vậy, chúng ta nghĩ xem, nếu chấp nhận thuyết tái sinh thì chúng ta sẽ có những chuyển biến nội tâm tích cực gì?
Thứ nhất, chết không phải là chấm dứt đời sống, là hết tất cả, không phải là được tiễn đưa đến nơi an nghỉ cuối cùng với khóc lóc bi thương, mà là tiễn đưa tới một cuộc sống mới, tốt đẹp hơn, nếu trong đời đã qua, chúng ta đã từng sống tốt đẹp.
Thứ hai, tuổi già không phải là tuổi “lão lai tài tận”, mà là tuổi chuẩn bị tích cực cho cuộc sống mới tương lai, ngang qua một cái chết thanh thản, tỉnh táo như lá rụng mùa thu. Ở tuổi già của người tin ở thuyết tái sinh, thường có ý nghĩ như thế này: “Tất cả những người chúng ta gặp, có quan hệ ở đời này, rất có thể đã có quan hệ với chúng ta trong một hay nhiều đời trước, thậm chí còn có quan hệ gia đình với họ nữa: họ có thể là cha mẹ, vợ chồng, anh em, con cái, họ hàng, bạn bè thân thiết của mình, cho nên đời này gặp họ không phải là đầu tiên, mà là gặp lại. Do đó, có quan hệ thân thiết lại càng thân thiết hơn, yêu quý hơn, trân trọng hơn. Trong số này, nếu có người ghét và làm hại mình thì sao? Hãy cứ nghĩ rằng, có thể trong một đời trước, chúng ta đã ghét và làm hại họ, và đây chỉ là một sự trả nợ công bằng. Hơn nữa cũng là dịp tốt để tự mình rèn luyện đức tính bao dung, nhẫn nhục. Do đó, hãy đừng oán giận họ, mà cảm ơn họ”.
Khi tôi còn trẻ hơn, mắt chưa bị mổ thì tôi dạy học ở nhiều trường, tích lũy cũng được một ít tiền, thế rồi, một ngày, hai kẻ cắp lẻn vào nhà, nẫng sạch trơn!. Nhưng tôi lại nghĩ: “Đây không phải là sạch tiền mà là sạch nợ”. Tôi đã mắc nợ hai cô, cậu ăn cắp này trong một đời trước, và bây giờ, có dịp may trả nợ họ. Có khai báo công an lấy lệ, nhưng mọi việc êm xuôi. Đấy, người tin thuyết tái sinh, có nhận thức như vậy đối với diễn biến của cuộc đời mình.
Phương châm sống: “Hết lòng giúp đỡ mọi người với hết khả năng của mình, nhưng nếu không được thì chớ hại người”. Tôi nghĩ đó là một phương châm sống tốt đẹp, dựa trên niềm tin thuyết tái sinh.
Thứ ba, một nhận thức lạc quan nảy sinh từ niềm tin ở thuyết tái sinh là sự nghiệp rèn luyện tâm linh như hành thiền, nội quán v.v... không phải là công việc làm ở đời này, mà là tiếp tục một công việc làm từ nhiều đời trước. Người Việt Nam sống trong một đất nước có bề dày lịch sử Phật giáo 20 thế kỷ có thể đã tái sinh nhiều lần, nhiều đời với tư cách là người Phật tử, từng sống theo tám điều dạy của Phật trong “Bát chánh đạo” ,từng ngồi thiền nhiều đời trong tư thế hoa sen v.v... Tôi không ngạc nhiên khi gặp nhiều người bạn của tôi tuy không phải chính thức là Phật tử, nhưng ngồi ở tư thế kiết già hoa sen một cách dễ dàng.
Bản thân tôi nay tuy tuổi đã cao, nhưng vẫn tranh thủ ngồi thiền hằng ngày, không kể giờ giấc, có khi rất ngắn 5 phút, 10 phút, đêm khuya hay tảng sáng thì ngồi lâu hàng giờ, nhưng mỗi lần ngồi đều với niềm tin, mình đã từng ngồi thiền trong nhiều đời rồi. Do đó mà có thể ngồi thiền với toàn thân và tâm thoải mái, không vội vã, bức xúc gì hết...
Thứ tư, để kết luận, tôi xin phép ghi lại ở đây câu nói của Phật Thích Ca Mâu Ni khi Ngài ngồi dước cội cây bồ đề, chứng Túc mạng thông vào canh đầu đêm Ngài thành đạo: “Ta nhớ lại nhiều, rất nhiều đời sống quá khứ mà ta đã từng trải qua, một, hai đời, ba, bốn, năm đời năm mươi, một trăm... một trăm ngàn đời, trong nhiều kiếp vũ trụ khác nhau. Ta biết rõ tất cả về tất cả những kiếp sống khác nhau đó” (Kinh Trung Bộ).
Đối với chúng ta là Phật tử, những điều Đức Phật nói trên đây về Túc mạng thông, có trọng lượng hơn bất cứ một chứng cứ nào hết!
Tất nhiên, Thiền sư Tây Tạng Sogyal Rinpoche trong “Cuốn sách Tây Tạng về sống và chết” (The Tibetan book of living and dying) có thể đưa ra nhiều chứng cứ khác như lời tâm sự của Henry Ford, nhà doanh nghiệp và nhà từ thiện lớn của Mỹ:
“Tôi tin thuyết tái sinh năm tôi 26 tuổi... Từ nay, đối với tôi, thời gian không còn bị hạn chế nữa. Tôi không còn là nô lệ của kim đồng hồ nữa... Tôi muốn truyền đạt tới những người khác sự bình lặng nội tâm mà quan niệm về một cuộc cuộc sống lâu dài đem lại cho chúng ta”.
Tâm thức chúng ta là một dòng chảy liên tục, từ kiếp sống này sang kiếp sống khác, không dừng nghỉ và mỗi lần chết chỉ là một mắt xích của dòng chảy liên tục.
Sự hiện hữu của tâm thức là không thể nghi ngờ, vì chúng ta thể nghiệm nó hàng ngày. Nhưng, một điều nữa chúng ta không thể nghi ngờ là dòng tâm thức thay đổi từ tâm niệm này sang tâm niệm khác, không xen hở, do ảnh hưởng của các nhân duyên từ bên trong, cũng như bên ngoài.
Tâm thức không phải là một cái gì đơn nhất, mà có nhiều lớp. Những lớp tâm thức thô nhất, nằm trên bề mặt thì chịu sự chi phối của các hoạt động của thân, đặc biệt là của não bộ. Vì cái thân có thể chết đi, thì các lớp thô của tâm thức ngưng hoạt động, nhưng các lớp tâm thức vi tế vẫn tiếp tục dòng chảy của nó không ngưng đoạn, từ kiếp sống này qua kiếp sống khác. Đó chính là cơ sở của tái sinh, chứ cơ sở đó không phải là một linh hồn bất tử bất diệt.
Dòng tâm thức, ở các lớp vi tế của nó vẫn tiếp tục dòng chảy của nó, không có điểm khởi đầu, không có một Thượng đế hay thần linh nào tạo ra nó hết. Tâm niệm này diệt, nhường chỗ cho một tâm niệm khác nảy sinh. Không giống hệt cũng không khác hẳn tâm niệm vừa diệt. Từ thời vô thỉ đến nay, dòng tâm thức của mọi chúng sinh đều liên tục chảy như thế, và đó lả cơ sở của tái sinh.
Đạo Phật bác bỏ khái niệm một linh hồn bất diệt, chuyển từ đời này sang đời khác là vì lẽ đó. Dòng tâm thức vi tế của con người, tuy chảy liên tục không ngưng nghỉ, nhưng cũng biến đổi không ngừng, niệm niệm sinh diệt.
--- o0o ---
Con người có sự tái sinh hay không? Đó là một vấn đề mà nhiều người, ở phương Đông cũng như phương Tây, quan tâm. Nhân dịp Xuân Giáp Thân, chúng tôi xin giới thiệu đến quý độc giả nguyệt san Giác Ngộ một câu chuyện tái sinh ở Ấn Độ, có quan hệ tới Thánh Gandhi. Thánh Gandhi trực tiếp nói chuyện với Shanti Devi, cô gái tái sinh đã kể lại kiếp trước của mình. Câu chuyện này được dẫn lại trong tác phẩm đối thoại giữa khoa học và Phật giáo nổi tiếng: “Vũ trụ trong lòng bàn tay” của hai tác gải Trịnh Xuân Thuận và Mathieu Ricard, chương “The Virtual frontiers” (Biên giới hư ảo), bản Anh ngữ.
Câu chuyện kỳ lạ của cô Shanti Devi xảy ra tại Delhi, Ấn Độ, năm 1926. Khi lên 4 tuổi, Shanti Devi nói với cha mẹ của mình rằng nhà thật của cô là ở thành phố Mathura, nơi hiện nay chồng cô đang sống. Lúc ban đầu, cha mẹ cô cũng buồn cười, nhưng sau thì lo con gái mình loạn thần kinh chăng? Nhưng Shanti Devi luôn chứng tỏ mình là con bé ngoan và thông minh . Năm lên 6, Devi trốn khỏi nhà và tìm tới Mathura, cách đó hơn 300 dặm, nhưng không thành vì đường quá xa. Có lần, cô nói với một bạn học của cô rằng tên thật của cô là Lugdi Devi, chứ không phải Shanti Devi, rằng cô đã có chồng và một đứa con nhỏ mà cô không săn sóc được vì cô chết 10 ngày sau khi sinh đứa bé.Nhưng không có ngưòi nào tin lời cô nói.
Cuối cùng, thầy giáo cô cũng như bà hiệu trưởng cũng sinh nghi, họ đến thẳng nhà cô, hỏi han cha mẹ cô và cả cô nữa thật cặn kẽ. Cô mô tả lại cuộc sống xưa kia của cô ở Mathura với chồng cô là một thương nhân. Trong câu chuyện, cô luôn pha vào những thổ ngữ của Mathura, mà ở Delhi không ai hiểu cả. Họ hỏi tên chồng cô là gì, cô trả lời là “Kedar Nath”. Bà hiệu trưởng gửi thư hỏi người quen ở Mathura và biết ở Mathura đúng là có một thương nhân tên là Kedar-Nath. Bà hiệu trưởng gửi thư thẳng cho Kedar Nath, và được trả lời là đúng 9 năm trước đây, vợ anh ta đã chết sau khi sinh con 10 ngày.
Kedar Nath phái một ngưòi em họ mình đến Delhi để gặp cô gái. Cô gái nhận ngay ra người em họ của người chồng cũ, lại còn thắc mắc vì sao anh ta béo ra và chưa chịu lập gia đình. Cô còn hỏi thăm tin tức về đứa con của cô.
Sau đó, đến lượt Kedar Nath quyết định tự mình cùng với đứa con trai nhỏ đi Delhi, và tự giới thiệu mình không phải là Kedar mà là anh cả của Kedar.
Nhưng, Shanti Devi vừa gặp Kedar Nath, sau khi nghe giới thiệu là “anh của Kedar” bèn nói to: “Không, ông không phải là anh chồng tôi mà chính là chồng tôi”.
Thế rồi , cô khóc và lăn xả vào vòng tay ôm của chồng. Đến lượt đứa con trai nhỏ vào phòng , Shanti ôm chầm và hôn không khác gì mẹ hôn con, mặc dù đứa con trai lớn hơn Shanti Devi.
Mọi người chứng kiến đều ngạc nhiên vô cùng. Devi nhắc lại lời hứa của người chồng cũ rằng anh ta sẽ không đi bước nữa sau khi Devi qua đời. Nhưng cô nói sẵn lòng tha thứ khi người chồng cũ thú thật là mình không giữ lời hứa và đã lấy người vợ mới. Kedar Nath còn ở lại Delhi thêm vài ngày nữa, và khi trởvề Mathura, anh không còn nghi ngờ gì nữa Shanti Devi đúng là vợ cũ của mình tái sinh.
Nhưng câu chuyện không dừng ở đó mà đồn xa khắp nơi, đến tai Mahatma Gandhi. Thánh Gandhi đích thân đến thăm và hỏi chuyện cô gái. Cô gái đã làm Gandhi vô cùng thán phục. Shanti Devi nói với Gandhi rằng, Lugdi Devi trước đây có niềm tin tôn giáo sâu sắc. Gandhi xoa đầu cô gái và nói “Ta mong nghe nói về cháu nhiều hơn, khi cháu đến Mathura, lòng ta sẽ luôn bên cạnh cháu. Cháu cần chân lý. Đùng bao giờ đi chệch con đường chân lý, không kể phải trả giá như thế nào”. Rồi Gandhi phái cô gái đến Mathura, cùng với cha mẹ cô, ba công dân đáng kính của thành phố Delhi, cùng với một số luật sư, nhà báo và nhà doanh nghiệp. Tất cả những ngưòi đi theo cô gái và cha mẹ cô đều là nhân vật trí thức có tiếng tăm. Ngày 15 tháng 11 năm 1935, đoàn đến nhà ga xe lửa Mathura. Đông đảo quần chúng đã tập họp ở sân ga để chào mừng đoàn. Cô bé Shanti Devi làm mọi người ngạc nhiên khi cô ta tay bắt mặt mừng những người thuộc gia đình cũ của cô. Cô bé chạy đến và ôm choàng một ông già và gọi: “ông nội của cháu”, và hỏi “ông nội để cây tía tô của cháu đâu rồi?”. Ông già rất đỗi ngạc nhiên, vì trước khi chết, cô bé đã trao cho ông nhờ ông chăm nom cây tía tô, một loại cây ở Ấn Độ nổi tiếng về công hiệu y học và tâm linh.
Rồi cô bé hướng dẫn cả đoàn về ngôi nhà cũ của cô, và cha mẹ cô. Rồi cô lại gặp người chồng cũ, ông này cũng ngạc nhiên vô cùng. Gia đình cha mẹ hiện nay của Shanti Devi lo lắng là cô bé sẽ bỏ rơi họ. Nhưng rồi, cô bé cũng tự trở lại Delhi với cha mẹ hiện nay của cô. Trong thời gian ở lại Mathura, cô bé biết rõ người chồng cũ đã không giữ đúng bất kỳ một lời hứa nào của anh ta, đã nói với cô trong giờ phút cô lâm chung. Thậm chí, anh ta đã không cúng thần Khrishna số tiền 150 rupi, mà cô đã cất dấu dưới sàn gỗ của nền nhà, để cầu cho linh hồn cô được siêu thăng giải thoát. Shanti Devi tha lỗi cho người chồng cũ và tất cả mọi thất hứa của anh, trong khi ngày càng có nhiều người biết chuyện cô và ngày càng thán phục cô. Một ủy ban gồm người địa phương được cử ra để thẩm định tính xác thực của câu chuyện, và kết luận Shanti Devi đúng là Lugdi tái sinh.
Shanti Devi tiếp tục sống độc thân, vì cô ta đã hứa với người chồng cũ là sẽ sống độc thân trong đời sống kiếp sau. Cô không bao giờ lợi dụng danh tiếng của cô, và sau khi học xong môn văn chương và triết lý ở cấp đại học, cô sống một cuộc đời dành cho cầu nguyện và thiền định.
Qua câu chuyện trên, một câu chuyện về sự tái sinh trong vô vàn câu chuyện tái sinh khác đã và đang diễn ra khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là trong truyền thống Phật giáo Tây Tạng. Với những câu chuyện tái sinh như thế, điều mà Phật giáo nhấn mạnh là làm một chuyển biến nội tâm tích cực, nảy sinh từ việc chấp nhận thuyết tái sinh. Nếu không có sự chuyển biến nội tâm tương ứng, thì thuyết tái sinh đó chỉ là một kiến thức, một thông tin vô thưởng vô phạt như trărn ngàn thông tin khác mà thôi.
Vậy, chúng ta nghĩ xem, nếu chấp nhận thuyết tái sinh thì chúng ta sẽ có những chuyển biến nội tâm tích cực gì?
Thứ nhất, chết không phải là chấm dứt đời sống, là hết tất cả, không phải là được tiễn đưa đến nơi an nghỉ cuối cùng với khóc lóc bi thương, mà là tiễn đưa tới một cuộc sống mới, tốt đẹp hơn, nếu trong đời đã qua, chúng ta đã từng sống tốt đẹp.
Thứ hai, tuổi già không phải là tuổi “lão lai tài tận”, mà là tuổi chuẩn bị tích cực cho cuộc sống mới tương lai, ngang qua một cái chết thanh thản, tỉnh táo như lá rụng mùa thu. Ở tuổi già của người tin ở thuyết tái sinh, thường có ý nghĩ như thế này: “Tất cả những người chúng ta gặp, có quan hệ ở đời này, rất có thể đã có quan hệ với chúng ta trong một hay nhiều đời trước, thậm chí còn có quan hệ gia đình với họ nữa: họ có thể là cha mẹ, vợ chồng, anh em, con cái, họ hàng, bạn bè thân thiết của mình, cho nên đời này gặp họ không phải là đầu tiên, mà là gặp lại. Do đó, có quan hệ thân thiết lại càng thân thiết hơn, yêu quý hơn, trân trọng hơn. Trong số này, nếu có người ghét và làm hại mình thì sao? Hãy cứ nghĩ rằng, có thể trong một đời trước, chúng ta đã ghét và làm hại họ, và đây chỉ là một sự trả nợ công bằng. Hơn nữa cũng là dịp tốt để tự mình rèn luyện đức tính bao dung, nhẫn nhục. Do đó, hãy đừng oán giận họ, mà cảm ơn họ”.
Khi tôi còn trẻ hơn, mắt chưa bị mổ thì tôi dạy học ở nhiều trường, tích lũy cũng được một ít tiền, thế rồi, một ngày, hai kẻ cắp lẻn vào nhà, nẫng sạch trơn!. Nhưng tôi lại nghĩ: “Đây không phải là sạch tiền mà là sạch nợ”. Tôi đã mắc nợ hai cô, cậu ăn cắp này trong một đời trước, và bây giờ, có dịp may trả nợ họ. Có khai báo công an lấy lệ, nhưng mọi việc êm xuôi. Đấy, người tin thuyết tái sinh, có nhận thức như vậy đối với diễn biến của cuộc đời mình.
Phương châm sống: “Hết lòng giúp đỡ mọi người với hết khả năng của mình, nhưng nếu không được thì chớ hại người”. Tôi nghĩ đó là một phương châm sống tốt đẹp, dựa trên niềm tin thuyết tái sinh.
Thứ ba, một nhận thức lạc quan nảy sinh từ niềm tin ở thuyết tái sinh là sự nghiệp rèn luyện tâm linh như hành thiền, nội quán v.v... không phải là công việc làm ở đời này, mà là tiếp tục một công việc làm từ nhiều đời trước. Người Việt Nam sống trong một đất nước có bề dày lịch sử Phật giáo 20 thế kỷ có thể đã tái sinh nhiều lần, nhiều đời với tư cách là người Phật tử, từng sống theo tám điều dạy của Phật trong “Bát chánh đạo” ,từng ngồi thiền nhiều đời trong tư thế hoa sen v.v... Tôi không ngạc nhiên khi gặp nhiều người bạn của tôi tuy không phải chính thức là Phật tử, nhưng ngồi ở tư thế kiết già hoa sen một cách dễ dàng.
Bản thân tôi nay tuy tuổi đã cao, nhưng vẫn tranh thủ ngồi thiền hằng ngày, không kể giờ giấc, có khi rất ngắn 5 phút, 10 phút, đêm khuya hay tảng sáng thì ngồi lâu hàng giờ, nhưng mỗi lần ngồi đều với niềm tin, mình đã từng ngồi thiền trong nhiều đời rồi. Do đó mà có thể ngồi thiền với toàn thân và tâm thoải mái, không vội vã, bức xúc gì hết...
Thứ tư, để kết luận, tôi xin phép ghi lại ở đây câu nói của Phật Thích Ca Mâu Ni khi Ngài ngồi dước cội cây bồ đề, chứng Túc mạng thông vào canh đầu đêm Ngài thành đạo: “Ta nhớ lại nhiều, rất nhiều đời sống quá khứ mà ta đã từng trải qua, một, hai đời, ba, bốn, năm đời năm mươi, một trăm... một trăm ngàn đời, trong nhiều kiếp vũ trụ khác nhau. Ta biết rõ tất cả về tất cả những kiếp sống khác nhau đó” (Kinh Trung Bộ).
Đối với chúng ta là Phật tử, những điều Đức Phật nói trên đây về Túc mạng thông, có trọng lượng hơn bất cứ một chứng cứ nào hết!
Tất nhiên, Thiền sư Tây Tạng Sogyal Rinpoche trong “Cuốn sách Tây Tạng về sống và chết” (The Tibetan book of living and dying) có thể đưa ra nhiều chứng cứ khác như lời tâm sự của Henry Ford, nhà doanh nghiệp và nhà từ thiện lớn của Mỹ:
“Tôi tin thuyết tái sinh năm tôi 26 tuổi... Từ nay, đối với tôi, thời gian không còn bị hạn chế nữa. Tôi không còn là nô lệ của kim đồng hồ nữa... Tôi muốn truyền đạt tới những người khác sự bình lặng nội tâm mà quan niệm về một cuộc cuộc sống lâu dài đem lại cho chúng ta”.
Tâm thức chúng ta là một dòng chảy liên tục, từ kiếp sống này sang kiếp sống khác, không dừng nghỉ và mỗi lần chết chỉ là một mắt xích của dòng chảy liên tục.
Sự hiện hữu của tâm thức là không thể nghi ngờ, vì chúng ta thể nghiệm nó hàng ngày. Nhưng, một điều nữa chúng ta không thể nghi ngờ là dòng tâm thức thay đổi từ tâm niệm này sang tâm niệm khác, không xen hở, do ảnh hưởng của các nhân duyên từ bên trong, cũng như bên ngoài.
Tâm thức không phải là một cái gì đơn nhất, mà có nhiều lớp. Những lớp tâm thức thô nhất, nằm trên bề mặt thì chịu sự chi phối của các hoạt động của thân, đặc biệt là của não bộ. Vì cái thân có thể chết đi, thì các lớp thô của tâm thức ngưng hoạt động, nhưng các lớp tâm thức vi tế vẫn tiếp tục dòng chảy của nó không ngưng đoạn, từ kiếp sống này qua kiếp sống khác. Đó chính là cơ sở của tái sinh, chứ cơ sở đó không phải là một linh hồn bất tử bất diệt.
Dòng tâm thức, ở các lớp vi tế của nó vẫn tiếp tục dòng chảy của nó, không có điểm khởi đầu, không có một Thượng đế hay thần linh nào tạo ra nó hết. Tâm niệm này diệt, nhường chỗ cho một tâm niệm khác nảy sinh. Không giống hệt cũng không khác hẳn tâm niệm vừa diệt. Từ thời vô thỉ đến nay, dòng tâm thức của mọi chúng sinh đều liên tục chảy như thế, và đó lả cơ sở của tái sinh.
Đạo Phật bác bỏ khái niệm một linh hồn bất diệt, chuyển từ đời này sang đời khác là vì lẽ đó. Dòng tâm thức vi tế của con người, tuy chảy liên tục không ngưng nghỉ, nhưng cũng biến đổi không ngừng, niệm niệm sinh diệt.
--- o0o ---
Nguồn: Tu Viện Quảng Đức
Một Trường Hợp Tái Sinh Nhớ Kiếp Trước Tại Việt Nam
Những ‘người chết đầu thai’ làm náo loạn đất Hòa Bình
Những trường hợp “đầu thai” tại bản Chiềng Châu (Chiềng Châu, Mai Châu, Hòa Bình) diễn ra từ hàng chục năm nay. Những đứa trẻ khi sinh ra hoàn toàn bình thường, đến khi 3-4 tuổi lại nhận mình là… con của những gia đình khác xa đến cả chục cây số.
Trưởng phòng Tôn giáo (Sở Nội vụ tỉnh Hoà Bình), ông Nguyễn Trường Sơn xác nhận: “Những trường hợp người dân gọi là đầu thai ở huyện Mai Châu là có thật…".
“Kiếp trước cháu là con trai”
Hà Thị Mai Anh (SN 1995, hiện đang học lớp 9, trường phổ thông cơ sở thị trấn Mai Châu), con gái duy nhất của anh Hà Văn Bái và chị Hà Thị Tý là một trường hợp như thế. Anh Bái cho biết, vợ chồng anh lấy nhau từ năm 1990 nhưng hiếm muộn, mãi 5 năm sau mới sinh được Mai Anh. Từ lúc mới sinh cho tới khi cháu 4 tuổi, mọi biểu hiện cũng bình thường như những đứa trẻ khác và vì chỉ có một mình con nên đi đâu vợ chồng cũng cho con đi cùng.
Trong một lần đi dự đám cưới một người quen tại bản Nhót (xã Nà Mèo là xã kế bên), vợ chồng anh bận giúp chủ nhà làm cỗ nên gửi cháu cho mọi người trông giúp. Khi công việc đã xong, anh quay ra tìm thì thấy cô con gái của anh đang lẵng nhẵng theo một phụ nữ tầm tuổi vợ anh khóc mếu “Mẹ ơi”.
Lạ lùng ở điểm nhìn thấy cha mẹ đẻ thì cô bé cứ “bơ” đi mà bám chặt lấy người phụ nữ lạ mặt liên tục gọi “mẹ”. “Lúc đầu vợ chồng tôi nghĩ chắc con mình tưởng nhầm. Thấy lạ, mọi người trong đám cưới xúm vào hỏi thử: “Vậy bố mẹ cháu tên là gì, nhà ở đâu?”. Chúng tôi chết điếng người khi rõ ràng mình đẻ ra nó mà nó không nhắc đến, lại nhận là con của ông bà Lường Văn Tuấn – Hà Thị Ân lạ hoắc nào đó. Nó còn nói “Cháu có anh trai tên Lường Văn Tú còn cháu tên là Lường Văn Hải nhà ở bản Nhót, trước nhà có cây muỗng to, nhà được làm bằng đất 2 tầng (ý nói nhà sàn)”. Đến lúc này mọi người trong đám cưới mới ồ lên kinh ngạc”, anh Bái thuật lại.
Anh Khà Văn Ôn trước di ảnh con "đầu thai".
Nghĩ con mình bị… dở hơi nhưng anh vẫn phải chiều theo ý con, đưa cháu theo người phụ nữ lạ về nhà thì càng ngạc nghiên hơn khi mọi điều cháu nói đều chính xác. Ông bà, cô bác tới chơi cháu đều gọi tên chính xác từng người, cháu còn nhận ra quần áo, nơi “con là Lường Văn Hải thường ngủ”. Cả làng xôn xao: “Đúng là nhà này trước đây 4 năm có đứa con trai tên Lường Văn Hải đã mất, đúng vào dịp sinh con bé này”.
Lòng dạ của anh Bái rối bời, đợi đến gần tối thì con gái anh mới chịu theo về nhà. Trên đường đạp xe trở về, vừa sợ chuyện lạ kỳ vừa sợ mất con, anh ngã dúi dụi mấy lần. Người mẹ đẻ của cháu gái lúc về đến nhà ngồi trấn tĩnh lại mới nhớ lại đúng là có lần chị đi qua bản Nhót mua hàng và đó cũng chính là thời điểm chị có mang cháu.
Mấy hôm sau, bé gái liên tục bị ốm sốt cao, chẳng chịu ăn uống, miệng luôn đòi về “nhà ở kiếp trước”. Cuối cùng anh chị cũng phải chở cháu về nơi cháu đòi và vừa đến “nhà kiếp trước”, dù vừa ốm lăn lóc nhưng nay đã không còn biểu hiện gì của ốm sốt nữa, sắc mặt tươi tỉnh hẳn lên.
Anh Bái trầm ngâm: “Tôi phải mổ lợn làm 10 mâm cỗ để xin vía cháu về dưới này, tôi cũng chỉ có duy nhất mình cháu là con. Từ đó hai gia đình từ chỗ không quen biết nay trở thành thân thiết như hai anh em. Con bé khi nào thấy nhớ bố mẹ trên ấy là lại lên với bố mẹ, với anh, chán thì lại về đây. Những dịp lễ Tết, nghỉ hè có khi nó lên ở cả tuần, nếu lâu không lên là lại lăn ra ốm”.
Khách lạ len lén nhìn mặt cô bé “người Trời đầu thai” Mai Anh thì cô bé chợt khanh khách khiến giật thót mình: “Kiếp trước cháu là con trai đấy. Cháu có tới hai bố, hai mẹ và một anh trai, mọi người đều yêu thương cháu”.
Bỗng dưng con mình thành… con người khác
Trường hợp “người Trời đầu thai” trong nhà anh Hà Văn Tuốt và chị Hà Thị Tuỗn thì xảy ra cách đây đã hơn 20 năm. Anh chị năm nay đã ngoài 40 tuổi, có cậu con duy nhất là Hà Văn Dược (21 tuổi) hiện đang theo bố làm nghề dựng nhà sàn. Mọi người cho biết chàng trai này cũng là “con truyền kiếp”.
Mẹ đẻ của Dược cho biết vợ chồng chị lấy nhau từ năm 1990, một năm sau đó thì sinh con trai. Năm lên 3 tuổi, đang chơi với các bạn ngoài sân, thấy một người thu mua sắn là anh trai của một người trong làng đi qua, Dược nói với các mọi người: “Đấy là bác của em đấy”.
“Nghe bọn bạn nó nói lại nhưng vợ chồng tôi nghĩ là trẻ con nói nhảm nên cũng không để ý đến. Chuyện lạ xảy ra tới khi đi học mẫu giáo, mỗi lần bố mẹ đưa Dược đi học qua nhà một người tên Vì Văn Xiêm thì cậu bé đều nhắc đi nhắc lại: Nhà của con đây này”.
Thấy con nói liên thiên, cha mẹ đẻ thậm chí còn khi phát con đến đỏ mông nhưng sau đó, cậu bé bỗng lăn ra ốm và ngày ngày đều đòi bố mẹ đưa ra “nhà bố Xiêm”. Anh chị cũng đánh liều bế con đến nhà lạ và kỳ lạ thay, mọi bệnh tình của cậu bé đều biến mất. Cậu bé không chỉ biết hết mọi người trong gia đình lạ mà còn nói rõ mình chết từ lúc mới được 5 tháng tuổi và bố mẹ chưa kịp đặt tên con.
Vợ chồng ông hàng xóm tên Xiêm cũng ngã ngửa người ngạc nhiên bởi những điều bí mật sâu kín đó chỉ có ông bà mới biết. Vậy là ông hàng xóm cũng làm lễ xin được nhận bé Dược làm con nuôi.
Cậu bé Dược nay đã trưởng thành và vẫn nhận mình là người “đầu thai”. Khi được hỏi: “Em có cảm giác gì khi nhận gia đình nhà lạ hươ lạ hoắc làm bố mẹ, các em”, cậu trả lời: “Em cũng chẳng biết vì sao nữa, nhưng khi gặp bố mẹ em ở kiếp trước thì em nhận ra một cảm giác gần gũi, thân thiết và sau đó em cứ nhớ dần đấy từng là bố mẹ và các em mình… Những lần bố mẹ bên ấy đau ốm em cũng đều có linh cảm báo trước”.
Bà mẹ “kiếp trước” của Dược cũng khăng khăng: “Nó chính là đứa con đầu của tôi đã chết. Vợ chồng tôi sinh cháu đầu năm 1982 được 5 tháng thì cháu bị bệnh vàng da, dù đã đi bệnh viện, nhờ nhiều thầy lang nhưng cháu không qua khỏi. Thật bất ngờ là cháu lại lộn vào làm con gia đình nhà hàng xóm. Với linh cảm của người mẹ, tôi nhận thấy Dược cũng giống như hai đứa con đẻ của tôi. Hoàn cảnh của gia đình bên ấy neo người nên gia đình tôi cũng chỉ nhận cháu làm con nuôi, khi nào nhà có công việc thì cháu mới tới”.
Con nhiều tuổi hơn… bố mẹ
Thế nhưng hàng chục năm qua, trường hợp “đầu thai” rùng rợn nhất mà mọi người thường nhắc đến là trường hợp xảy ra tại gia đình anh Khà Văn Ôn (bản Nà Sài). Biết chúng tôi muốn tìm hiểu về trường hợp bất thường trong gia đình, anh Ôn xúc động thắp nén nhang, thì thầm đến trước di ảnh cô con gái Khà Thị Dịu Hiền (SN 2007) khấn con bằng tiếng dân tộc Thái. Trong di ảnh trước bàn thờ là một bé gái kháu khỉnh, được anh giới thiệu là “con đầu thai” của mình.
Anh Ôn nhẩm tính, nếu con mình còn sống thì đến nay đã được khoảng 5 tuổi 1 tháng. “Khi mới sinh ra cháu hoàn toàn bình thường như những đứa trẻ khác trong bản. Lạ là lúc lên 3 tuổi, ai hỏi “Cháu con nhà ai, ở đâu?” thì cháu lại chẳng nói tên vợ chồng tôi mà nói: “Tên bố là Lò Văn Chún, mẹ là Hà Thị Nguyên, anh chị là Lò Văn Ngọc, nhà ở xóm Vãng, trên thị trấn Mai Châu” (cách đó gần chục cây số). “Thực sự trước đó đến tôi cũng chẳng biết những người này là ai, chứ nói gì đến nhà người ta như thế nào”, vẫn lời anh Ôn buồn rầu thuật lại.
Dù trước đó ở địa phương đã có những trường hợp “con đầu thai” nhưng anh chị vẫn không tin và chỉ nghĩ cháu còn nhỏ nên nói vu vơ. Thế nhưng thấy cháu nhắc nhiều quá thì buộc họ phải lần theo địa chỉ cháu “hướng dẫn” để tìm hiểu.
Cặp vợ chồng vô cùng kinh ngạc vì cháu bé mới hơn 3 tuổi nhưng cháu kể chính xác tên những người trong gia đình này, còn còn nói rõ trước nhà có cây dừa, nhà rộng 3 gian và tả cụ thể đường vào nhà như thế nào, phải qua bao nhiêu khúc quẹo. Anh Ôn khi đó ướm hỏi con: “Vì sao con lại theo bố mẹ về đây?”. “Con đã ở nhà cũ nhiều năm thì bị đuổi đánh nên chạy ra khỏi nhà. Lúc ấy gặp mẹ đang nấu cơm bên đường nên con theo mẹ về”.
Nghe con nói, anh chị giật mình, ngồi xâu chuỗi lại thời gian thì đúng là vào thời điểm đó anh chị đi công nhân làm đường trên địa bàn xóm đó và chị chuyên nấu cơm cho tổ công nhân. Đó cũng chính là thời điểm vợ anh mang thai.
Anh kể tiếp, khi con gái mình được 4 tuổi thì cháu có những hành động rất lạ như lục tìm và cắt nát hết những tấm ảnh của mình. Thời gian sau cháu kên đau đầu gối, anh chị đưa cháu lên bệnh viện khám, qua chụp X quang, theo kết luận của bệnh viện cháu bị khuyết xương đầu gối và viêm khớp. Bệnh viện khuyên anh chị nên đưa cháu về Hà Nội chữa trị.
Tại bệnh viện Nhi trung ương, các bác sĩ đã điều trị và bó bột rồi cho về, hẹn gia đình sau hai tuần cho cháu lên kiểm tra lại. Tuy nhiên, đến ngày 5/6/2010, thấy cháu bệnh tình không giảm lại kèm theo sốt cao, anh chị đưa cháu xuống khám ở bệnh viện K. Qua khám bệnh kết luận, các bác sĩ khuyên gia đình nên đưa cháu về nhà chăm sóc, vì cháu bị bệnh bạch cầu cấp (ung thư máu) hiện y học trên thế giới vẫn đang bó tay trước căn bệnh nan y này.
“Có điều lạ là dù cháu đau thế nào nhưng cháu đều mím môi chịu đựng không để bố mẹ và mọi người trong gia đình biết. Ông ngoại đến làm vía (cúng vía theo phong tục địa phương) cho cháu thì cháu bảo: “Con không khỏi bệnh đâu, ông cho con đi chơi nhà các cô, các bác”. Đến hôm sau thì cháu mất”, anh Ôn thuật lại.
Thế nhưng điều kinh hoàng nhất với vợ chồng anh Ôn xảy ra khi gia đình mời ông thầy mo trong bản đến làm lễ cúng ma cho con theo phong tục địa phương. “Ông thầy mo ban đầu gọi hồn là cháu thì kiểu gì cũng cúng không thành, phải đến khi gọi cháu là… chị thì mới ngồi làm lễ được. Thầy mo bấm tuổi rồi bảo chúng tôi: Người trời này hơn 40 tuổi, là con chúng mày nhưng còn… nhiều tuổi hơn cả chúng mày”, anh Ôn sợ hãi kể.
Anh Ôn hiện đang là cán bộ UBND xã Chiềng Châu, anh buồn rầu cho biết: “Vợ chồng mình làm cán bộ nên cũng không tin vào những chuyện ma quái. Nhưng thật sự chuyện con mình là như vậy. Nó là đứa con đầu thai, nó chê nhà mình nghèo, nó không ở thì mình cũng đành phải chịu”.
Để kiểm chứng câu chuyện của anh Ôn, chúng tôi cũng đã vượt quãng đường hơn 10 cây số tìm đến nhà anh Lò Văn Ngọc tại xóm Vãng được cho là người có cô em gái đã “đầu thai” làm con anh Ôn. Đúng như lời anh Ôn kể, đó là một căn nhà sàn 3 gian, phía trước nhà có cây dừa. Anh Ngọc cho biết: “Bố mẹ tôi chỉ sinh được hai anh em. Tôi sinh năm 1964, còn cô em gái sinh năm 1966 nhưng nó bị bạo bệnh mất sớm. Đêm con anh Ôn mất, chẳng hiểu vì sao mà cả gia đình tôi không ai ngủ được, cứ lục sục xuốt đêm. Về sau mới biết tin em gái mình đã đầu thai vào nhà dưới ấy”.
Cơ quan chức năng cũng chưa thế giải thích
Những “nghi án đầu thai” không phải là chuyện mới, và cũng đã từng có ý kiến cho rằng người ta dựng chuyện “đầu thai” để lợi dụng việc cho nhận con nuôi hay mục đích vụ lợi gì khác. Đem ý kiến này đến những người cao tuổi trong bản Chiềng Châu để hỏi, chúng tôi được cụ Hà Văn Thẩm (80 tuổi) cho biết, chuyện con đầu thai ở đây không phải giờ mới có, mà trước đây cũng đã có nhiều trường hợp như vậy.
Trước năm 1954, thời lang đạo và thực dân Pháp cai trị, có những người vì nhận nhà lang làm nhà mình nên cả gia đình bị nhà lang hãm hại vì sợ tranh giành quyền thế, nhiều gia đình phải bỏ đi biệt xứ hoặc bị đánh đến chết. Còn bây giờ muốn nhận con nuôi thì Nhà nước mình có cấm đoán gì đâu mà họ phải bịa chuyện để lách luật?”.
Một thầy lang cao tuổi khác trong xã cho biết: “Tôi đi chữa bệnh nhiều, gặp trường hợp như vậy nếu các cháu muốn nhận bố mẹ mà lại hay đau ốm luôn thì tôi cũng khuyên gia đình nên cho các cháu nhận. Điều lạ là hầu như các trường hợp con đầu thai đều rơi vào trường hợp con một và những bệnh các cháu mắc phải đều khó tìm ra nguyên nhân, nhưng khi nhận bố mẹ, anh em “kiếp trước” thì bệnh tình đều qua khỏi”.
Ông Hà Trọng Lưu, Chủ tịch UBND xã Chiềng Châu cho biết: “Con luân hồi, đầu thai ở địa phương không phải là trường hợp cá biệt. Trong xã đã có nhiều trường hợp xảy ra và hai bên gia đình đều nhận anh em hoặc con nuôi. Tôi cũng nghe có nơi người ta nhận như thế cho hợp lý hóa việc nhận con. Nhưng ở Chiềng Châu, tôi khẳng định không có một trường hợp nào mang tính vật chất hay đánh đổi. Gần như những gia đình có con truyền kiếp đều có kinh tế khá hơn những gia đình các cháu nhận là gia đình kiếp trước”.
Cũng theo Chủ tịch xã Hà Trọng Lưu, việc nhận con nuôi như thế đã diễn ra nhiều năm nay ở địa phương, dù xôn xao dư luận nhưng không gây ảnh hưởng xấu đến đời sống, phong tục tập quán của người Thái ở đây.
“Vì vậy chúng tôi coi đó cũng là những câu chuyện hết sức bình thường giống như chuyện cây lúa trên nương, con thú trên rừng vậy. Có chăng bà con trong bản cũng chỉ nói: Thì ra con nhà ấy lại là con ông bà ở bản này, bản kia lộn về. Các gia đình sau đó đều nhận bố mẹ, anh em, con cái và coi nhau như người một nhà, quây quần đù bộc nhau qua sợi dây luân hồi – tiền kiếp”, nguyên văn lời ông Lưu.
Trưởng phòng Tôn giáo (Sở Nội vụ tỉnh Hoà Bình), ông Nguyễn Trường Sơn cũng xác nhận: “Những trường hợp người dân gọi là “đầu thai” ở huyện Mai Châu là có thật. Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh Hoà Bình còn một vài trường hợp ở huyện Lương Sơn và Lạc Sơn. Tôi cũng đã từng đến tận nơi tìm hiểu nhưng kết quả chỉ là ngạc nhiên và không giải thích nổi. Có những đứa trẻ khi sinh ra chẳng đi đâu mà biết rõ gia đình nhà người khác cách hàng chục cây số như trong lòng bàn tay, như việc mình đã trải qua”.
Theo ông Sơn, trong những trường hợp này dân gian sẽ dựa vào quan điểm Phật giáo để giải nghĩa. “Phật giáo không cho rằng con người chết là hết mà có linh hồn bất tử tiếp tục đầu thai vào kiếp khác. Cứ như thế con người vào vòng luân hồi không ngừng từ đời này qua đời khác, từ kiếp này sang kiếp khác. Con người của quá khứ là nhân của con người hiện tại, con người hiện tại là nhân của con người tương lai. Dù khoa học chưa chứng minh được quan niệm này là đúng hay sai, nhưng những người tin theo quan điểm Phật giáo thì vẫn cho rằng có kiếp trước – kiếp sau”, ông Sơn cho biết.
Theo Đất Việt
Luân hồi đầu thai tại Việt Nam
Những trường hợp đã được kiểm chứng
Câu chuyện thứ nhất: Con gái ông Cả Hiêu ở cà Mau (Việt Nam)
Câu chuyện có thật này sảy ra tại làng Tân Việt ở Cà Mau (vùng Ðầm Giơi). Ở đây có một gia đình gồm hai vợ chồng và 3 người con. Người cha trong gia đình này là ông Cả Hiêu. Cô con gái trong gia đình được ông Cả Hiêu cưng chìu như trứng mỏng nhưng không may, cô bị bệnh và qua đời lúc 19 tuổi. Cả nhà ai cũng đau buồn thương xót, ông Cả Hiêu thì như điên như dại.
Câu chuyện không chấm dứt ở sự qua đời của cô gái mà lại là chuyện bắt đầu vì do sự trùng hợp nào đó, (mà sau này người trong hai vùng này mới tìm thấy thêm chi tiết). Ở cách làng Tân Việt cũng có một cô gái bị bệnh (cùng thời gian với cô con gái ông Cả Hiêu) và qua đời. Người nhà khóc lóc, lo việc tẩm liệm thì bất ngờ ngày hôm sau cô gái sống lại làm mọi người vừa mừng vừa sợ. Cô gái tự nhiên mạnh khỏe, như không có gì gọi là đau ốm bệnh hoạn cả. Ðiều lạ lùng là từ khi sống lại, cô gái này cứ một mực đòi người trong gia đình đưa cô đến nhà ông Cả Hiêu.
Mọi người trong nhà đều hết sức ngạc nhiên vì không biết ông Cả Hiêu là ai. Khi hỏi cô gái thì cô cho biết cha của cô chính là ông Cả Hiêu người làng Tân Việt. Người nhà nghỉ rằng cô gái có lẽ bị ma nhập, quỷ ám nên lo sợ, đi tìm thầy về cúng và trừ tà. Nhưng cô gái vẫn khăng khăng đòi đi gặp cha mình và bảo rằng cô biết rõ đường đến nhà ông Cả Hiêu. Cô mô tả đường đi, tả ngôi làng, tả cái nhà, số nhà từng chi tiết và kể về những người nhà ông Cả Hiêu nữa. Cô gái bảo ông bà Cả Hiêu là cha mẹ ruột của mình. Cuối cùng cha mẹ cô gái buộc lòng phải cùng đi theo chuyến xe đò đến làng Tân Việt để tìm hiểu thực hư.
Khi đến bến xe, mọi người xuống xe còn đang bỡ ngỡ không biết đi theo hướng nào để về nhà ông Cả Hiêu thì cô gái nói: “Ðừng có ngại, để con dẫn đường cho”. Thế rồi khi đến cổng nhà ông Cả Hiêu, cô gái tỏ vẻ mừng rỡ vô cùng và chạy nhanh vào nhà. Lúc đó hai vợ chồng ông Cả Hiêu đang ngồi trong nhà. Cô gái chạy lại ôm chầm lấy ông Cả Hiêu vừa khóc vừa nói: “Ba ơi, con đây ba ơi!” Hai vợ chồng ông Cả Hiêu còn đang ngơ ngác không hiểu chuyện gì sảy ra thì vừa lúc cha mẹ cô gái bước vào nhà kể lại chi tiết câu chuyện cho vợ chồng ông Cả Hiêu nghe. Ông Cả Hiêu lấy làm lạ, cũng kể lại cong gái mình bị bệnh đã qua đời cho cha mẹ cô gái nghe. Ông còn chỉ tay lên bàn thờ có đặt tấm ảnh của cô con gái con ông. Trong khi đó cô gái mới đến cứ đi lại trong nhà tự nhiên như là người đã ở đó từ lâu rồi. Câu chuyện đến hồi kết thúc khi sự kiện đã rõ ràng; cô gái nhất quyết ông bà Cả Hiêu là cha mẹ mình và ông bà Cả Hiêu cũng chấp nhận điều đó vì cô gái nói rõ những chi tiết mà ngoài con gái ông Cả Hiêu ra khó có ai biết rõ chuyện gia đình ông bà. Thế là hai gia đình kết thân với nhau.
Dân chúng hai vùng Cà Mau, Bạc Liêu biết được một chuyện lạ lùng hãn hữu trên thế gian, họ bảo cô gái ấy có hồn là con của ông bà người làng Tân Việt nhưng thân xác lại là con của ông bà người làng Vĩnh Mỹ.
Câu chuyện thứ hai: Trường hợp bé Quyết Tiến tại Hoà Bình
Hiện tượng “hoán đổi linh hồn” trên không phải là duy nhất tại Việt Nam. Trước đó, câu chuyện “đầu thai” kì lạ của một cậu bé ở Hòa Bình cũng đã gây xôn xao dư luận. Tin180 cũng đã đăng tải câu chuyện “đầu thai” đầy kì lạ này.
Anh Tân và chị Thuận đều là cán bộ công tác tại thị trấn Vụ Bản, Lạc Sơn, Hòa Bình. Anh chị kết hôn năm 1987, đến năm 1992 chị Thuận sinh cháu trai đặt tên là Nguyễn Phú Quyết Tiến. Tuy nhiên, Tiến chẳng may chết đuối, khi ấy cháu 5 tuồi. Bỗng nhiên, vào một ngày đầu năm 2006, có một cháu bé tự khẳng định cháu chính là cháu Tiến, người đã bị chết đuối năm 1997!
Tiến bên bố mẹ “nuôi”.
Theo lời anh Tân, kể từ ngày cháu về với anh chị, hết lần này đến lần khác hai người “thử” cháu. Thậm chí, nhiều người hàng xóm cũng sang nhà để “hỏi chuyện ngày xưa”. Tất cả cháu đều trả lời vanh vách. Từ tên bác hàng xóm, đến cô giáo mẫu giáo rồi bạn bè thân của cháu, cháu đều nhớ tên. Đường về nhà, hay những câu chuyện nhỏ nhặt như ngày xưa bà nội cho cháu uống bia ở đầu làng cháu cũng nhắc lại, ngay cả việc, “cháu đã từng chết như thế nào, bị ngã xuống nước ra sao”…
“Dù trước đó, chưa một lần tin có chuyện “hoang đường” như thế, nhưng đến lúc ấy cả vợ chồng tôi đều hoàn toàn tin rằng Bình chính là cháu Tiến, con chúng tôi 10 năm về trước”, anh Tân kể.
Điều ngạc nhiên hơn, trước đó, chính bà Thỉn, bà nội cháu Bình cũng từng cho biết: “Từ ngày thằng Bình bắt đầu bi bô tập nói tôi đã biết nó không phải người Mường mà là người Kinh. Nó nói tiếng Kinh rành rọt, điều mà chưa một đứa bé người Mường nào giống thế”. Chính Bình cũng đã có lần nói với mẹ: “con là người Kinh, con không phải người Mường. Mẹ không đưa con về con sẽ chết”.
Từ ngày về ở với anh chị Tân, Thuận, Bình nằng nặc đòi gọi tên là Tiến, ngay cả tên đệm cháu cũng đòi giữ.
Những chuyện lạ lùng ở bản Cọi
Hiện tượng “đầu thai” ở bản Cọi làm dư luận cả nước xôn xao vì ngoài trường hợp cháu Bình, tại đây, còn xuất hiện hai trường hợp “đầu thai” khác. Câu chuyện “con lộn” của Bùi Thị Hồng Thắm ở bản Cọi, Lạc Sơn, Hòa Bình được đăng tải trên báo Thể thao & văn hóa cũng là một trường hợp tương tự. Thắm sinh năm 1991, chị Bùi Thị Toàn, mẹ Thắm cho biết, từ bé cháu đã có những biểu hiện rất lạ lùng.
Theo lời chị Toàn, khi Thắm bi bô biết nói, một lần hai mẹ con đang chơi đùa bỗng cháu “xị” mặt rồi nằng nặc đòi: “mẹ đưa con về nhà” dù lúc đó cháu đang ở trong nhà mình. Một hôm, đang chơi đùa, Thắm nói với bà nội: “mẹ cháu kia kìa”. Người Thắm chỉ là bà Nguyễn Thị Nghe, người ở đầu làng. Lúc Thắm được 5 tuổi, hôm đó, cháu được bố mẹ cho ra đồng. Khi trở về đi qua nhà bà Nghe cháu chỉ tay rồi bảo với bố mẹ “nhà con đây này”. Chị Toàn bảo lại con “con thích thì mẹ đưa vào nhà con”, thế nhưng khi vừa bước vào công Thắm đột nhiên dừng lại: “Con không vào nữa đâu, chị Hằng đang ở trong đó, con ghét chị ấy vì chị đã xui con trèo cây làm con ngã chết”.
Từ hôm đó chị Toàn mới “xâu chuỗi” lại toàn bộ những biểu hiện lạ thường từ ngày con bé cứ đòi chị “đưa về nhà con”. Chị bắt đầu nghĩ đến chuyện cháu Ly (con bà Nghe) nó đã “lộn” về con Thắm nhà mình.
Ly là con trai bà Nghe. Năm Ly được 7 tuổi, một hôm Ly được chị gái tên Hằng dẫn đi hái ổi ở bên triền núi. Trong lúc Ly trèo ra hái ổi, em bị ngã rơi xuống đất. Ly bị chấn thương sọ não và mất ngay sau đó.
Ông Bùi Văn Tỉnh, xóm trưởng xóm Cọi cho biết: “Ở xóm Cọi đã ghi nhận ba trường hợp con lộn. Người Mường quan niệm, những đứa trẻ dưới 12 tuổi bị chết bất đắc kỳ tử có khả năng “lộn” về và vào một người nào đó”.
Những trường hợp “đầu thai” đầy kì lạ này không chỉ khiến dư luận xôn xao mà còn làm gia đình hai bên đều rất bối rối, khó xử khi cháu bé “đầu thai” nhất quyết đòi về nhà bố mẹ trước đây để ở mà không chịu ở với bố mẹ đẻ. Tuy nhiên, theo thời gian, hầu hết các gia đình hai bên đều thông cảm, hiểu cho nỗi đau của nhau và giải quyết vấn đề hợp lí, hợp tình. Nhiều gia đình là “bố mẹ kiếp trước” đã nhận cháu bé làm con nuôi hay như trường hợp cháu Bình (ở Lạc Sơn, Hòa Bình) thì bố mẹ đẻ đã đồng ý để cháu về nhà ở với bố mẹ trước theo ý nguyện của cậu bé này.
Huy Hoàng tổng hợp
(Nguồn: Tin180, BĐVN, Tientri, VNN)
Subscribe to:
Posts (Atom)

